Trước khi đổi giờ sinh sang giờ âm lịch, phải đưa giờ trên giấy tờ về đúng giờ chuẩn: trừ một tiếng nếu nơi sinh đang áp dụng giờ mùa hè, và tính đến múi giờ nơi sinh, kể cả múi giờ cũ từng dùng ở Việt Nam. Một tiếng chênh là đủ đẩy giờ sinh sang giờ âm lịch kề bên; chênh nhiều tiếng thì có thể đổi cả ngày.
Người sinh ở Đức, Mỹ, Úc, Hàn Quốc hay Nhật ngày càng nhiều, và cả những người sinh ở miền Nam trước tháng 6 năm 1975 cũng gặp chuyện múi giờ mà ít ai để ý. Bài này giải thích giờ mùa hè, hai cách quy đổi đang được dùng, lịch sử múi giờ ở miền Nam, lớp điều chỉnh theo kinh độ, và một quy trình gọn để bạn nhập ứng dụng cho đúng.
Vì sao múi giờ làm đổi giờ âm lịch
Giờ âm lịch truyền thống gắn với vị trí Mặt Trời trên bầu trời nơi người ta sống: giờ Ngọ là quãng Mặt Trời lên cao nhất, giờ Tý là quãng nửa đêm. Đồng hồ hiện đại thì không theo Mặt Trời của từng nơi mà theo múi giờ hành chính, một con số quy ước chung cho cả một vùng rộng. Phần lớn thời gian, giờ đồng hồ và giờ mặt trời ở Việt Nam chỉ lệch nhau vài phút đến vài chục phút, nên bảng đổi 12 giờ âm lịch dùng được.
Vấn đề xuất hiện khi giờ ghi trên giấy tờ không theo giờ chuẩn UTC+7 hiện nay. Có ba trường hợp hay gặp: nơi sinh dùng giờ mùa hè, đồng hồ được vặn sớm một tiếng; nơi sinh ở một múi giờ khác hẳn Việt Nam; hoặc sinh ở Việt Nam trong giai đoạn múi giờ chính thức khác bây giờ. Trong cả ba trường hợp, đem thẳng giờ trên giấy khai sinh tra bảng 12 giờ là có thể sai.
Một tiếng lệch nghe nhỏ nhưng mỗi giờ âm lịch chỉ dài hai tiếng. Người sinh lúc 10 giờ 30 theo giờ mùa hè thực ra sinh lúc 9 giờ 30 giờ chuẩn, may là vẫn nằm trong giờ Tỵ; nhưng người sinh lúc 11 giờ 20 giờ mùa hè thì thực ra sinh lúc 10 giờ 20, từ giờ Ngọ lùi về giờ Tỵ. Trên lá số tử vi, đổi giờ sinh là đổi vị trí cung mệnh.
Giờ mùa hè ở một số nơi người Việt hay sinh sống
Giờ mùa hè là việc vặn đồng hồ sớm một tiếng trong những tháng ngày dài, để tận dụng ánh sáng buổi chiều. Nó không làm Mặt Trời mọc sớm hơn, nên khi quy đổi giờ sinh luôn phải trừ lại một tiếng. Bảng dưới đây ghi theo quy định nhiều năm gần đây; quy định từng thay đổi trong lịch sử, nên với năm sinh cụ thể bạn cần tra lại.
| Nơi sinh | Giờ chuẩn | Giờ mùa hè | Khoảng thời gian áp dụng |
|---|---|---|---|
| Đức, Pháp, Séc, Ba Lan | UTC+1 | UTC+2 | Cuối tháng 3 đến cuối tháng 10 |
| Anh | UTC+0 | UTC+1 | Cuối tháng 3 đến cuối tháng 10 |
| Bờ Đông nước Mỹ | UTC−5 | UTC−4 | Tháng 3 đến tháng 11 |
| Bờ Tây nước Mỹ | UTC−8 | UTC−7 | Tháng 3 đến tháng 11 |
| Đông nam nước Úc (như Sydney, Melbourne) | UTC+10 | UTC+11 | Tháng 10 đến đầu tháng 4 năm sau |
| Nhật Bản, Hàn Quốc | UTC+9 | Hiện không áp dụng | Hàn Quốc từng áp dụng ngắn hạn trong quá khứ |
| Đài Loan | UTC+8 | Hiện không áp dụng | Từng áp dụng một số năm trước đây |
Lưu ý bán cầu Nam ngược mùa: ở Úc, giờ mùa hè rơi vào khoảng tháng 10 đến tháng 4, đúng mùa Tết của Việt Nam. Người sinh ở Sydney dịp Tết rất dễ bị bỏ sót bước trừ một tiếng.
Cách tra chắc chắn nhất là dùng một công cụ đổi múi giờ có hỗ trợ ngày trong quá khứ. Phần lớn các công cụ này dựa trên cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế mà máy tính và điện thoại dùng chung, ghi lại từng lần thay đổi giờ của từng nơi theo năm. Nhập nơi sinh và ngày giờ sinh, công cụ cho biết thời điểm đó nơi sinh đang ở UTC bao nhiêu.
Hai cách quy đổi: giờ nơi sinh hay giờ Việt Nam
Sau khi đã bỏ giờ mùa hè, vẫn còn một câu hỏi mà những người làm tử vi trả lời khác nhau: người sinh ở nước ngoài nên lập lá số theo giờ địa phương nơi sinh, hay quy về giờ Việt Nam?
| Điểm so sánh | Theo giờ chuẩn nơi sinh | Quy về giờ Việt Nam |
|---|---|---|
| Cách làm | Bỏ giờ mùa hè, giữ nguyên giờ chuẩn nơi sinh rồi tra bảng 12 giờ | Đổi giờ sinh sang UTC+7, rồi mới tra bảng và đổi ngày âm lịch |
| Lập luận | Giờ âm lịch vốn phản ánh vị trí Mặt Trời ở nơi người đó ra đời | Lịch âm Việt Nam tính theo UTC+7, nên quy mọi thứ về một hệ cho nhất quán |
| Ngày âm lịch | Lấy theo ngày tại nơi sinh | Có thể đổi sang ngày khác nếu chênh lệch múi giờ lớn |
| Khi nào hai cách gần nhau | Nơi sinh có múi giờ gần Việt Nam như Thái Lan, Lào, Campuchia | Như bên cạnh |
| Khi nào khác hẳn | Nơi sinh ở châu Âu, châu Mỹ, cách Việt Nam từ năm đến mười hai tiếng | Như bên cạnh |
Không có cách nào được mọi người công nhận. Lập luận theo giờ nơi sinh được nhiều người cho là gần với tinh thần ban đầu của giờ âm lịch hơn; lập luận quy về giờ Việt Nam thì đơn giản khi dùng chung một bộ lịch. Điều bạn cần làm là biết ứng dụng đang theo cách nào: ứng dụng có ô chọn múi giờ hoặc nơi sinh thường theo cách thứ nhất; ứng dụng chỉ có ô giờ thì ngầm hiểu bạn nhập giờ Việt Nam.
Ví dụ giả định: sinh ở Berlin mùa hè và ở bờ Đông nước Mỹ mùa đông
Ví dụ thứ nhất, một em bé sinh lúc 10 giờ 30 sáng ngày 15 tháng 7 năm 2010 tại Berlin. Tháng 7 nước Đức đang dùng giờ mùa hè UTC+2, nên giờ chuẩn là 9 giờ 30, thuộc giờ Tỵ. Nếu quy về giờ Việt Nam, 9 giờ 30 ở UTC+1 tương ứng 15 giờ 30 ở UTC+7, thuộc giờ Thân. Theo cách giờ nơi sinh, em bé sinh giờ Tỵ; theo cách quy về giờ Việt Nam, em bé sinh giờ Thân. Ngày âm lịch không đổi, mồng 4 tháng Sáu năm Canh Dần, nhưng hai giờ cách nhau tới ba bậc trong vòng 12 giờ.
Ví dụ thứ hai, một người sinh lúc 20 giờ 30 ngày 10 tháng 1 năm 2015 ở bờ Đông nước Mỹ. Tháng 1 không có giờ mùa hè, giờ chuẩn là UTC−5. Theo giờ nơi sinh, đó là giờ Tuất ngày 10 tháng 1, tức ngày 20 tháng Mười Một năm Giáp Ngọ. Quy về giờ Việt Nam, thời điểm đó là 8 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 1, giờ Thìn, ngày 21 tháng Mười Một. Ở đây không chỉ giờ mà cả ngày âm lịch cũng khác, và ngày âm lịch lại là dữ kiện an một số sao quan trọng.
Hai ví dụ cho thấy vì sao lá số của người sinh ở nước ngoài trên hai ứng dụng có thể khác nhau rất xa mà không ứng dụng nào sai phép tính. Khi so hai lá số, việc đầu tiên là xem phần đầu: giờ sinh âm lịch và ngày âm lịch mà mỗi bên dùng.
Sinh ở miền Nam trước tháng 6/1975: đồng hồ từng chạy theo UTC+8
Đây là trường hợp ít người biết. Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế mà máy tính và điện thoại dùng, giờ chính thức ở Sài Gòn và miền Nam là UTC+8 từ ngày 1 tháng 1 năm 1960 đến ngày 13 tháng 6 năm 1975, sau đó mới thống nhất về UTC+7. Trước đó, giai đoạn chiến tranh từ đầu thập niên 1940 đến giữa thập niên 1950, giờ chính thức cũng từng đổi qua lại nhiều lần giữa UTC+7, UTC+8 và có lúc UTC+9.
Hệ quả: người sinh ở miền Nam trong giai đoạn 1960 đến giữa năm 1975 có giờ trên giấy khai sinh sớm hơn giờ chuẩn hiện nay một tiếng. Một ví dụ giả định, người sinh lúc 7 giờ 30 sáng ngày 5 tháng 3 năm 1970 tại Sài Gòn theo đồng hồ thời đó. Tra thẳng bảng 12 giờ, đó là giờ Thìn. Quy về UTC+7 thì là 6 giờ 30, giờ Mão. Ngày âm lịch là 28 tháng Giêng năm Canh Tuất trong cả hai cách, nhưng giờ sinh thì khác.
Với miền Bắc trong cùng giai đoạn, tư liệu dễ tiếp cận ít và không thống nhất, nên nếu sinh ở miền Bắc trước năm 1975 vào những năm có biến động, bạn nên hỏi thêm người trong gia đình hoặc tài liệu địa phương. Ứng dụng lập lá số hiện nay phần lớn không tự điều chỉnh chuyện này; bạn phải tự quy đổi trước khi nhập, hoặc chọn ứng dụng có ô nơi sinh và kiểm xem nó có áp lịch sử múi giờ không.
Lớp điều chỉnh thứ ba: kinh độ và giờ mặt trời thật
Múi giờ UTC+7 lấy kinh tuyến 105 độ đông làm chuẩn. Việt Nam trải từ khoảng 102 đến gần 110 độ đông, nên giờ mặt trời trung bình ở từng nơi lệch khỏi giờ đồng hồ vài phút đến mười mấy phút: Hà Nội sớm hơn khoảng 3 phút, Huế khoảng 10 phút, Nha Trang thuộc Khánh Hòa khoảng 17 phút, còn Điện Biên muộn hơn khoảng 8 phút. Mỗi độ kinh tương ứng 4 phút.
Ngoài ra, do quỹ đạo Trái Đất hình elip và trục nghiêng, giờ Mặt Trời thật còn lệch khỏi giờ mặt trời trung bình thêm tối đa khoảng mười mấy phút tuỳ thời điểm trong năm, gọi là phương trình thời gian. Một số ứng dụng có tuỳ chọn hiệu chỉnh theo kinh độ nơi sinh, hoặc theo giờ mặt trời thật; số khác dùng nguyên giờ đồng hồ.
Với đa số người, lớp điều chỉnh này không đổi gì vì giờ sinh nằm xa ranh giới. Nó chỉ quan trọng khi giờ sinh sát mốc, trong vòng hai mươi phút quanh các giờ lẻ như 1, 3, 5. Lúc đó, ứng dụng có hiệu chỉnh và ứng dụng không hiệu chỉnh có thể xếp bạn vào hai giờ âm lịch khác nhau. Nắm được điều này, bạn sẽ không ngạc nhiên khi thấy hai lá số lệch nhau đúng một giờ.
Quy trình gọn trước khi bấm lập lá số
Áp dụng cho người sinh ở nước ngoài, người sinh ở miền Nam giai đoạn 1960 đến giữa năm 1975, và bất kỳ ai có giờ sinh sát ranh giới.
- Ghi lại ngày giờ sinh đúng như trên giấy tờ, kèm thành phố nơi sinh.
- Tra xem tại thời điểm đó nơi sinh dùng múi giờ nào và có đang áp dụng giờ mùa hè không, bằng công cụ đổi múi giờ hỗ trợ ngày trong quá khứ.
- Trừ giờ mùa hè nếu có, ra giờ chuẩn nơi sinh. Với người sinh ở miền Nam giai đoạn UTC+8, trừ một tiếng để ra giờ UTC+7.
- Quyết định theo cách giờ nơi sinh hay quy về giờ Việt Nam, rồi xem ứng dụng định dùng có hỗ trợ cách đó không: có ô múi giờ hay nơi sinh, hay chỉ có ô giờ.
- Lập lá số, xem phần đầu: ngày âm lịch, giờ âm lịch có khớp với kết quả bạn tự tính không.
- Nếu giờ chuẩn sát ranh giới hai giờ âm lịch, lập thêm lá số cho giờ kề bên và ghi rõ đây là hai khả năng.
Ghi lại cả quá trình quy đổi thành một dòng chú thích lưu cùng ngày sinh, ví dụ: sinh 10:30 Berlin giờ mùa hè, giờ chuẩn 9:30, lá số theo giờ nơi sinh. Nếu muốn có thêm một nguồn đối chiếu, phần xem lá số miễn phí trên AI Huyền Học cho phép nhập ngày giờ để bạn so phần đầu lá số. Thông tin nơi sinh và ngày giờ sinh đủ để nhận diện một người, nên khi hỏi chatbot cách quy đổi, dùng ví dụ giả định thay vì dữ liệu thật.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ở nước ngoài thì lá số tử vi tính theo giờ nào?
Có hai cách: theo giờ chuẩn nơi sinh sau khi bỏ giờ mùa hè, hoặc quy về giờ Việt Nam UTC+7. Không có cách nào được tất cả công nhận. Bạn nên chọn một cách, kiểm xem ứng dụng đang dùng cách nào và ghi rõ trên lá số.
Giờ mùa hè có phải trừ khi lập lá số không?
Có. Giờ mùa hè chỉ là việc vặn đồng hồ sớm một tiếng, Mặt Trời không thay đổi. Dù theo cách giờ nơi sinh hay quy về giờ Việt Nam, bước đầu tiên luôn là trừ một tiếng để ra giờ chuẩn.
Sinh ở Sài Gòn năm 1972 có phải trừ một tiếng không?
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, giờ chính thức ở miền Nam giai đoạn 1960 đến tháng 6 năm 1975 là UTC+8. Nếu giờ trên giấy tờ ghi theo đồng hồ thời đó, cần trừ một tiếng để ra giờ UTC+7 trước khi đổi sang giờ âm lịch.
Ứng dụng có ô nơi sinh thì có tự xử lý hết không?
Không chắc. Một số ứng dụng dùng nơi sinh để tính múi giờ và giờ mùa hè, một số chỉ dùng để hiển thị. Hãy kiểm bằng cách xem giờ âm lịch in ở đầu lá số có khớp với kết quả bạn tự quy đổi hay không.
Có cần hiệu chỉnh theo kinh độ nơi sinh không?
Chỉ đáng bận tâm khi giờ sinh nằm sát ranh giới giữa hai giờ âm lịch. Trong lãnh thổ Việt Nam, chênh lệch theo kinh độ chỉ vài phút đến mười mấy phút, nên phần lớn người sinh xa ranh giới không bị ảnh hưởng.
Giấy khai sinh ở nước ngoài ghi giờ kiểu 12 giờ thì đọc thế nào?
Ký hiệu AM là buổi sáng, từ nửa đêm đến trước giữa trưa; PM là buổi chiều tối, từ giữa trưa đến trước nửa đêm. Riêng 12 AM là nửa đêm và 12 PM là giữa trưa. Đổi sang dạng 24 giờ trước rồi mới quy đổi múi giờ.